Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

Vấn đề con người trong đời sống gia đình qua hai tiểu thuyết "Gia đình" của Khái Hưng và "Mùa lá rụng trong vườn" của Ma Văn Kháng

1. Vấn đề con người trong đời sống gia đình trong văn học
Văn học là nhân học, xét cho cùng cái đích đến của nhà văn trong mọi tác phẩm văn chương chính là con người. Con người được văn chương khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó vấn đề con người trong đời sống gia đình được nhiều nhà văn quan tâm và đi sâu khai thác.
Từ đầu thế kỉ XIX vấn đề con người trong đời sống gia đình đã xuất hiện trong nhiều tác phẩm từ nhiều thể loại: truyện ngắn Câu chuyện gia đình - Nguyễn Bá Học, vở kịch Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm của Vũ Đình Long, tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh. Sang đến những năm 30, các tác phẩm viết về đề tài này trở nên dồi dào: Làm lẻ - Mạnh Phú Tư, Thừa Tự, Gia đình - Khái Hưng, Lá ngọc cành vàng - Nguyễn Công Hoan, Đoạn Tuyệt - Nhất Linh…và về sau ngày càng phát triển nhiều hơn. Văn chương là hình thái ý thức xã hội, nên những tác phẩm văn chương tái hiện lên bức tranh về những gia đình khác nhau trong những bối cảnh lịch sử xã hội khác nhau. Nhưng nhìn chung, đó là sự trăn trở của các nhà văn trước những thay đổi, đấu tranh giữa quan niệm cũ và mới, giữa cái truyền thống và cái cách tân, những cái xấu và cái đẹp từ đạo lí và cách cư xử của con người.
Nói đến con người trong văn học là nói đến tính nhân văn. Theo quan điểm của Giáo sư Đặng Thai Mai: Chủ nghĩa nhân văn là hệ một thống tư tưởng lấy cõi người, lấy con người làm trọng. Những công cụ kiến thiết về văn hoá, văn chương cũng phải hướng đến con người.
             Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa nhân văn không phải là thứ tình thương, lòng trắc ẩn của con người mà đó là lòng tin không bờ bến đối với con người. Tin vào khả năng, lương tri của con người, dù con người đó có những lỗi lầm. Đối với con người phải lấy lòng khoan dung độ lượng. Đối với cách mạng thì phải biết làm cho mỗi phần tốt của con người trỗi dậy và làm cho phần xấu mất đi.
            Quan điểm mát-xít: Nói đến chủ nghĩa nhân văn là nói đến cách nhìn nhận, đánh giá con người, đặc biệt là nói đến giá trị, năng lực của con người.
            Tóm lại: Dù cách nói có khác nhau nhưng tất cả những quan điểm trên đều có một điểm chung: Đó là quan niệm về chủ nghĩa nhân văn trong nghệ thuật nói chung là sáng tạo vì con người, hướng đến con người, tin tưởng vào năng lực và lương tri của con người.

TÌM HIỂU VỀ TẬP TRUYỆN HƯƠNG MÁU- NGUYỄN VĂN XUÂN


1. Sơ lược về tác giả Nguyễn Văn Xuân và tập truyện Hương Máu
Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân sinh ngày 10.5.1921 tại làng Thanh Chiêm xã Điện Phương huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam và mất ngày 04.7.2007. Sinh thời, ông không chỉ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo... mà còn  được biết đến như một người làm báo và viết báo xuất sắc. Các tác phẩm chính của Nguyễn Văn Xuân: Ngày giỗ cha (tập truyện ngắn, 1943), Ngày cuối năm trên đảo (tập truyện ngắn, 1945), Bão rừng (tiểu thuyết, 1957), Dịch cát (tập truyện ngắn, 1966), Hương máu (tập truyện ngắn, 1969), Phong trào Duy Tân (biên khảo, 1969), Kỳ nữ họ Tống (truyện lịch sử, 2002), Khi những lưu dân trở lại (khảo luận, 1967), Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc (khảo lục, 1971)…
Tập truyện ngắn Hương máu xuất bản năm 1969 bao gồm bảy truyện: Hương máu, Viên đội hầu, Thằng Thu, Về làng, Cái giỏ, Chiếc cáng điều, Rồi máu lên hương. Tập truyện ngắn ra đời trong những năm tháng đất nước và nhân dân ta đang anh dũng, kiên cường chiến đấu chống lại sự tấn công ngày càng khốc liệt của chế độ Mỹ - Ngụy. Vì thế những đề tài mà tác giả đề cập đến trong từng truyện cũng không nằm ngoài dòng chảy của văn học yêu nước lúc bấy giờ. Tập truyện viết về những cái chết anh hùng, sự hi sinh cao quý, hiên ngang bất khuất, của con người Quảng Nam. Nguyễn Văn Xuân đã tái hiện lại những nhân vật làm rạng danh vùng đất Quảng Nam như: Hoàng Diệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân, các lãnh tụ Cần vương như Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến…Những cái chết bất tử, gieo vào lòng độc giả bao nỗi xót thương và đầy kính trọng. Đi sâu vào tìm hiểu tập truyện để thấy được những giá trị nội dung và nghệ thuật quý báu mà nhà văn đã đóng góp cho nền văn học nước nhà. Đó là sự tiếp nối truyền thống, khẳng định tư tưởng yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc luôn là nguồn mạch chính của văn học Việt Nam.




2. Giá trị nội dung của tập truyện Hương Máu
v Ca ngợi những con người hy sinh cho sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước.
Cảm hứng tư tưởng chủ đạo trong tập truyện là ca ngợi tấm gương những người con ưu tú của quê hương, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Nhân vật được nhà văn xây dựng có thể là những anh hùng chiến đấu và hy sinh thầm lặng cho quê hương, hay những con người đã làm rạng danh trong lịch sữ dân tộc đồng thời họ cũng có thể là những người anh hùng do tác giả hư cấu lên.
Trong truyện ngắn Hương máu, Nguyễn Văn Xuân đã tái hiện lại những hình tượng nhân vật anh hùng trong phong trào Cần Vương: Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Hồ Học, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Hữu Diễn, Tổng đốc Hoàng Diệu… Họ đều là những bậc trung thần, nghĩa sĩ  của triều đại phong kiến cuối cùng Việt Nam, trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp. Tác giả không đề cập đến những chiến công, chiến tích hào hùng mà thể hiện khí phách oai phong của họ trước thời cuộc. Với Phan Bá Phiến, ông đã tự nguyện tìm đến cái chết để bảo vệ bí mật của nghĩa quân. Ông không coi đó là một bất hạnh của mình mà xem đó như là một hành động chứng tỏ lòng trung thành với Hoàng thượng: “Ông đưa chén thuốc độc lên môi, thong thả nuốt từng ngụm một. Uống xong, ông đặt chén, ung dung nâng cái hốt ngà lên, đầu cúi xuống cho được trang nghiêm…” hay nhân vật Hồ Học cũng là một tướng sĩ của Nghĩa Hội, cái khí phách vừa ngang tàng, vừa bất khuất càng được thể hiện rõ nét khi ông bị đưa ra tra tấn: “Một tù nhân tên là Hồ Học, một chiến tướng lừng danh dù bị bắt bị trói chặt cánh khuỷu, khi đối mặt với viên án sát, đối mặt vói những tên lính tra trấn kèm theo dụng cụ của họ nhưng người anh hùng vẫn ung dung, bình tĩnh”. Bên cạnh đó nhà văn còn khắc họa khí phách oai hùng của những người tuy chỉ đứng trong hàng ngũ binh lính nhưng khí phách kiên trung, luôn sẳn sàng hy sinh vì đại nghĩa: nhân vật “tôi”, Hiểu, Thiều…
Trong truyện Về làng, nhân vật ông Tú Bình là một tướng lĩnh nghĩa quân bị xử chém ở làng quê trong sự thương tiếc của nhân dân. Cái chết của ông còn sống mãi trong lòng bao người dân làng.
v Phê phán, lên án quân xâm lược và thế lực tay sai
Bên cạnh cảm hứng ca ngợi lòng kiên trung của các anh hùng xả thân vì đất nước, Nguyễn Văn Xuân còn lên án bọn tay sai, bọn bán nước cầu vinh. Trong truyện ngắn Hương máu tác giả nói nhân vật Nguyễn Thân với thái độ châm biếm sâu sắc trước một tên tay sai đắc lực của thực dân Pháp “Người Pháp dùng Nguyễn Thân vừa là hổ tướng, vừa là mưu thần, vừa là chó săn đắc lực và nguy hiểm”. Thời gian này, Mỹ thực hiện chính sách thuộc địa kiểu mới trên đất nước ta, một chính sách vô cùng thâm độc là dùng người Việt trị người Việt, Nguyễn Văn Xuân đã xây dựng nhân vật Nguyễn Thân để thể hiện về hiện thực chiến tranh lúc bấy giờ. Đồng thời tác giả đã thể hiện rõ thái độ của mình đối với những kẻ làm tay sai:“ Ở quảng Nam y dùng tú tài Nguyễn… là một con chó săn khác cũng mê hát bộ và cũng nguy hiểm như y.  Hai tên phản quốc này đóng ở hai cứ điểm: Nguyễn Thân dẫn lính tập Quãng Ngãi ra đóng ở Tam Kì và Tú Nguyễn .. theo quân triều đình đóng ở Phủ Điện. Họ nắm lấy đó làm điểm xuất phát tấn công theo lối gọng kìm để kẹp chúng tôi. Họ đổ rất nhiều tiền ra để thuê những tên do thám, mua chuộc bọn thân hào, bọn nhà giàu..”
v Thể hiện nỗi đau trước những mất mát, hy sinh và niềm tin vào tương lai tươi sáng.
Trong tập truyện tác giả đề cập đến nhiều nỗi đau, mất mát, hy sinh của cách anh hùng. Những sự hy sinh cao cã vì nghĩa lớn, nó không hề mang tính chất bi lụy mà là những hình tượng phi thường, những anh hùng sống mãi trong lòng dân tộc. Dù hiện thực là mất mát, là đau thương, nhưng tinh thần lạc quan vẫn ngự trị trong tác giả thể hiện niềm tin vào tương lai của đất nước, cụ thể trong kết thúc truyện Hương Máu: “Đêm ấy, tôi ngủ và chiêm bao thấy hàng trăm kỵ sĩ ruổi rong khắp xóm làng tỉnh Quảng Nam mang theo những lá đại kỳ viết bằng chữ lớn, báo tin thủ lĩnh phiến loạn đã chết. Nhưng đột nhiên những kỵ sĩ áo màu kia biến mất nhường chỗ cho những người gầy gò, xanh xao. Họ chạy qua mặt tôi, lớn tiếng gọi tôi và vẫy tay. Tôi sửng sốt chạy lại thì thấy toàn những bộ mặt rất quen mà tôi đã gặp suốt ba năm trời ở núi rừng. Nhưng khi họ trưng thẳng lá cờ, tôi không thấy hung tin mà chỉ thấy một chữ “Tiệp” rất lớn. Rồi tôi lại thấy đoàn kỵ sĩ áo quần rực rỡ hiện ra và tất cả cùng đua nhau chạy về phía sương mù”.
3. Giá trị nghệ thuật trong tập truyện Hương Máu
Hương Máu là một tập truyện có giá trị nghệ thuật vừa chứa đựng một số tình tiết lịch sử trong giai đoạn người Pháp mở đầu cuộc xung đột với các vua nhà Nguyễn, trước khi áp đặt chế độ cai trị trên toàn cõi Việt Nam. Đây không phải là những mẩu chuyện thuộc loại dã sử mà cốt truyện dựa vào lịch sữ.
Về nghệ thuật ngôn ngữ trong tập truyện Hương Máu đậm chất đời thường, mộc mạc, sữ dụng nhiều từ địa phương mang tính giản dị, bình dân, phương ngữ Nam và Trung Bộ: chớ, ngó bộ, bịnh, thiệt, việc chi rứa?, chi mô, làm răng…
Tình huống truyện bất ngờ và độc đáo, thường được thể hiện ở cuối truyện.
Nghệ thuật hư cấu cũng được tác giả sữ dụng trong tập truyện: “với chú Thu này thì dù có sắt cây, chú bẻ cũng cứ là gãy hết nghiến” (Thằng Thu), hay trong cảnh xử chém nhân vật Thu thì chém ba nhát đầu vẫn không lìa khỏi cổ.
          Nghệ thuật trần thuật được Nguyễn Văn Xuân xây dựng qua hình tượng người kể chuyện xưng “tôi”.
4. Kết luận
Tinh thần tự cường dân tộc luôn là nguồn mạch chính của văn học Việt Nam. Nguồn mạch ấy đã được nhà văn Nguyễn Văn Xuân tiếp nối thêm sức sống dài lâu qua tập truyện Hương Máu. Ngoài những đặc sắc về nội dung và độc đáo về nghệ thuật, tập truyện còn là tiếng nói mang đậm màu sắc dân tộc và thấm đẫm tinh thần nhân văn sâu sắc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn lao của cuộc chiến tranh chống đế quốc xâm lược. Tập truyện Hương Máu góp phần vào sự hình thành và phát triển của văn học yêu nước thành thị miền Nam và làm giàu cho kho tàng văn học dân tộc.

CẢM THỨC VỀ THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN TRONG “CHINH PHỤ NGÂM”



Hình ảnh người phụ nữ là hình ảnh thành công nhất trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII -  nửa đầu thế kỷ XIX. Các tác phẩm văn học trong giai đoạn này là những bức tranh tái hiện số phận khổ đau, bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Trong đó chinh Phụ Ngâm là một tác phẩm nổi bật, đó là khúc ngâm của người chinh phụ, là lời thở than ai oán của một người phụ nữ có chồng ra chiến trường. Tác phẩm không chỉ có ý nghĩa nội dung phản chiến hết sức sâu sắc mà còn có những nét nghệ thuật hết sức độc đáo về thời gian và không gian- một trong những cảm thức thế giới của con người trung đại.
Cảm thức về thời gian của con người trung đại đó là thời gian vũ trụ mang tính chất tuần hoàn, luân hồi. Tương ưng với thời gian vũ trụ là thời gian thực tại, nếu thời gian vũ trụ có tính chất tuần hoàn thì thời gian thực tại của đời người mang tính chất tuyến tính. Thời gian tuyến tính gắn liền với cảm thức về sự trôi chảy, ngắn ngủi của đời người. Trong Chinh Phụ Ngâm thời gian tuần hoàn xuất hiện nhằm tăng cường cảm giác về độ dài triền miên không dứt của thời gian hiện tại, nhằm khắc họa tâm trạng cô đơn, buồn khổ của người chinh phụ. Thời gian trong tác phẩm là một thời gian hiện tại mong nhớ kéo dài vô tận, trong hồi tưởng về buổi tiển đưa đã có đến ba cuộc tiển đưa, đây là thời gian về tâm lý. Đó là cuộc tiển đưa giữa hai người:
Nhủ rồi tay lại cầm tay
Bước đi một bước dây dây lại dừng”
Cuộc tiễn đưa theo đoàn quân:
“Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
Hà lương chia rẽ đường này
Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi
Và cuộc tiễn đưa trong tâm tưởng:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu”

Tính liên tục tuần hoàn của thời gian được thể hiện trong một đoạn thơ trách người chinh phu lỡ hẹn diễn ra với ý niệm thời gian liên tục tuần hoàn của vũ trụ, nhất là vòng tuần hoàn bốn mùa xuân, hạ, thu, đông:
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
Thuở đãng đồ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại rã bên sông ba xoà
Chim oanh biểu trưng cho mùa xuân, chim đỗ quyên là biểu trưng cho mùa hè, hoa đào là biểu trưng cho mùa xuân,...Cả đoạn thơ không một từ chỉ thời gian, mà nó chỉ hiện lên những hình ảnh của những sinh thể trong đời sống tự nhiên. Chính sự tuần hoàn lặp lại của những hình ảnh ấy giúp người đọc có thể hình dung ra được sự tuần hoàn trôi chảy đến bất tận của thời gian. Bên cạnh đó trong đoạn thơ, tác giả còn dùng kết cấu thơ trùng điệp thể hiện tâm trạng chờ đợi mõi mòn của người chinh phụ, nàng cứ đợi chờ hy vọng người chinh phu sẽ trở về như lời hẹn ước.
Tính liên tục tuần hoàn của thời gian không những thể hiện  bằng phương thức gián tiếp qua những hình ảnh biểu trưng mà nó còn được diễn tả trực tiếp bằng những từ chỉ thời gian như sáng – trưa - chiều - tối, ngày, đêm.
Hẹn cùng ta Lũng Tây nham ấy,
Sớm đã trông nào thấy hơi tâm,
Ngập ngừng lá rung cành trâm,
Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao.
Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ,
Chiều lại tìm nào có tiêu hao,
Ngập ngừng gió thổi chéo bào,
Trong cái vòng tuần hoàn sáng -  trưa - chiều - tối thì thời gian buổi chiều và ban đêm thường thay nhau xuất hiện nhiều trong Chinh Phụ Ngâm. Tất cả như khắc sâu vào nỗi mong nhớ người chinh phu, tâm trạng nhớ thương của người chinh phụ là một tâm trạng thường trực. Những câu thơ lặp cấu trúc trùng điệp có tác dụng khắc họa sự luân chuyển  biến đổi, liên tục tuần hoàn của thời gian. Qua đó, làm bật nổi sự chờ đợi mỏi mòn đến tái tê của người chinh phụ. Sự vận hành của thời gian của vũ trụ cứ tuần hoàn trôi chảy mà cuộc đời con người thì hữu hạn. Cảm thức này luôn thường trực trong quan niệm của con người trung đại.
Cảm thức về không gian của con người trung đại đó là không gian vũ trụ bao la vô cùng, vô tận mang tính chất vĩnh hằng. Đối lập với không gian vũ trụ là không gian thưc tại, không gian trong tâm tưởng nhân vật, đó là nơi gắn bó tạm bợ của con người, biến đổi khôn lường. Trong Chinh phụ ngâm thể hiện đầy đủ những cảm thức về không gian của con người trung đại. Đó là không gian chiến trận gắn liền với số phận người chinh phu. Có thể nói phần lớn khúc ngâm là hình ảnh người chinh phụ dõi mắt trông theo người chinh phu từ lúc chia tay đến khi hành quân ra chiến trận. Không gian chiến trận hiện lên bao la hoang vắng:
“Chàng từ đi vào nơi gió cát
Đêm trăng này nghĩ mát nơi nao”
Không gian bao la, mênh mông được gới lên với hai từ “gió cát”. Hay sự bao la, hoang vắng:
“Non kỳ quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”
Không gian hiện lên với sự thê lương, ảm đạm, thiếu sự sống. Điều đó thể hiện phần nào tính chất của cuộc chiến, chẳng phải là một cuộc chiến vì chính nghĩa, vì công lý mà đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa của thế lực phong kiến.
Đối lập với không gian bao la, rộng lớn ấy đó là không gian nơi khuê phòng gắn liền với cuộc sống vô vị của người chinh phụ. Nơi người thiếu phụ một mình lẻ loi chiếc bóng, ngày nhớ đêm mong, luôn dõi mắt theo người chồng nơi chiến trận.
“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”
Không gian lạnh lẽo, một mình người chinh phụ đối diện với ngọn đèn khuya, không gian ngột ngạt, tù túng, bao trùm là nổi khắc khoải nhớ mong của người chinh phụ.
“Rêu xanh mấy lớp chung quanh
Dạo sân một bước trăm tình ngẩn ngơ”
Không gian ảm đạm. đìu hiu bị vây phủ bởi mấy lớp rêu xanh. Tâm hồn người chinh phụ nặng chữ tình, mỗi bước chân như trĩu nặng những nỗi nhớ niềm thương.
Đó còn là không gian ngoại cảnh mênh mông gắn với tâm trạng ngóng trông, khắc khoải đợi chờ. Nàng  trông về bốn phương xa xôi:
“Trông bến nam bãi chia mặt nước
Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh”
“Trông đường Bắc đôi chòm quán khách
Rườm rà cây xanh ngắt núi non”
“Non Đông thấy lá hầu chất đống
Trĩ sập sè mai cũng bẻ bai”
“Lũng tây thấy nước dường uốn khúc
Nhạn liệng không song giục thuyền câu”
Bốn phương mang những màu sắc khác nhau, gắn liền tâm trạng người chinh phụ lúc êm đềm lúc lại trào dâng.
Chinh phụ ngâm còn thể hiện không gian ảo mộng gắn với tâm trạng nhớ thương và khát vọng hạnh phúc:
“Sớm còn hồn mộng được gần
Đêm đêm thường đến Giang Tân tìm người”
Nàng tìm quên trong men rượu, vượt qua những khoảng cách địa lí xa xôi để tìm người chinh phu trong giấc mộng cho vơi đi nỗi nhớ. Không gian trong giấc mộng là chổ dựa tinh thần để người chinh phụ thỏa ước mơ xum họp, đoàn viên.
Cảm thức về thời gian và không gian của con người trung đại có mối quan hệ với nhau. Thời gian tuyến tính có quan hệ mật thiết với không gian thực tại phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên:
“Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa”
Thời gian ở đây như ngừng lại, đó là thời gian của tâm trạng. ở đây có sự kết hợp giữa không gian tù túng và thời gian chậm chạp
Thời gian chu kỳ có quan hệ mật thiết với không gian vũ trụ:
“Tin thường lại người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh,
Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ”
Hình ảnh thiên nhiên đang vận động biểu trưng cho sự trôi chảy của thời gian. Từ đó làm bật nổi sự vận động của thời gian trong cái tuần hoàn bất tận trong không gian bao la, mênh mông.
Chinh phụ ngâm thể hiện được cảm thức của con người trung đại về thời gian và không gian trong mối quan hệ vận hành của vũ trụ. Đó là cảm thức về thời gian tuần hoàn, luân hồi của vũ trụ và thời gian tuyến tính ngắn ngủi, thời gian của tâm trạng. Cảm thức về không gian vũ trụ bao la vô cùng, vô tận mang tính chất vĩnh hằng và không gian trong tâm tưởng nhân vật đó là nơi gắn bó tạm bợ của con người, biến đổi khôn lường. Chinh phụ ngâm còn thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ giữa thời gian và không gian, từ đó thấy được những nét độc đáo, sâu sắc của tác phẩm mang đậm nét về những đặc điểm của văn chương trung đại, mà cảm thức về thời gian và không gian là một điển hình.